Hằng ngày, nơi đây có người chăm nom thu dọn và thờ phụng
Đến huyền tích về nơi sinh vị thần bất tử giờ, tại cái gò giữa hồ đó, người dân vẫn tổ chức phụng dưỡng. Chuông tuy nhỏ nhưng cũng có giá trị kinh tế, nên mọi người rất tiếc. Cố nhiên trong xã hội phong kiến xưa, điều này là không thể ưng được.
Vào những ngày hội, người đến đây lễ rất đông, những người có con, cháu nhỏ tuổi bị ốm đau hay bệnh tật thường đến đây cầu xin lộc của Mẫu và của Thánh. Nhìn ra trông gò này như một hòn đảo nhỏ rất đẹp.
Miếu Ban được xây dựng sát ngay một cái hồ lớn mà theo các cụ cao tuổi trong làng thì đó là nơi sinh ra Gióng. Trong rừng khi ấy, ao hồ san sát, liền kề nhau. Đằng trước ban thờ là thống, liềm và một khúc rốn bằng đá - tục truyền của mẹ Thánh Gióng để lại.
Hồ cung cấp nước ăn cho cả làng và cũng là một địa điểm văn hóa rất khôn thiêng. Đặc biệt nữa là chiếc giếng này không bao giờ cạn nước. Trời cũng đẽo đá thành thống để bà tắm cho Gióng, thành liềm để bà cắt rốn và thành chõng để bà cho Gióng nằm. Những người có con hoặc cháu nhỏ thì thường xin một sợi chiếu nhỏ trước điện thờ.
Thấy vậy bà bèn dựng tạm một túp lều để sống, sau bà hạ sinh Thánh Gióng ở nơi đây. Điều kỳ lạ là ở đây cây cối nhiều, lá rụng quanh năm mà nước vẫn trong vắt.
Một đêm mưa to gió lớn, sấm chớp đùng đùng làm hư hại cây cối. Theo quan sát của PV, đây là một cái hồ khá rộng. Không còn chốn nương thân, bà phải bỏ lên rừng Trại Nòn (nay thuộc làng Phù Dực, Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội) để ở. Cụ Mùi (người dân sống cạnh đó) cho hay: “Ngày trước có kẻ trộm vào móc túi một cái chuông đồng cổ.
Theo họ, nếu cháu nhỏ được đeo sợi chiếu của Thánh ngồi thì cả năm đó sẽ tránh được bệnh tật, hay ăn chóng lớn. Sau bà có thai và sinh ra Thánh Gióng. Chúng tôi cũng không nạo vét gì mà không hề có hiện tượng nước bị thối.
Thế nhưng chỉ một thời kì ngắn sau, quả chuông đó thiên nhiên xuất hiện.
Người đàn bà không chồng mà chửa nhẹ thì cạo đầu bôi vôi rồi đuổi khỏi làng, nặng thì thả bè trôi sông. Sáng hôm sau, bà ra thăm vườn cà thì thấy một dấu chân “vừa tày năm gang” ở đó.
Những người đến đây đa phần cầu xin sức khỏe
Nhiều người từ đó khỏi bệnh. Không giống như cảnh chen chúc ở nhiều lễ hội khác, ở đây người ta xếp hàng lần lượt qua cầu để vào gò làm lễ. Truyền thuyết của dân làng không hẳn giống những gì ghi trong sách vở: Bà mẹ Gióng vốn là một người phụ nữ xấu xí, nghèo khổ, quá lứa, lỡ thì sống một mình trong túp lều tranh (trên nền đền Thượng hiện tại).
Nơi đặt ban thờ chỉ là một chõng đá được các cụ xưa đẽo lại theo mô phỏng chiếc chõng đá do Trời đẽo. Xung quanh được che bằng hai chiếc lọng vàng. Ngày trước chưa có nước máy, dân làng vẫn lấy nước ở giếng này làm nước sinh hoạt, ăn uống.
Dân làng nơi bà ở cũng vậy (nay là hai làng Đổng Viên và Đổng Xuyên), họ đã nhiếc móc, mắng đuổi bà ra khỏi làng. Một bậc cao niên trong làng - cụ Đào Công Thưởng - cho biết thêm: “Người dân chúng tôi gọi đó là đầm hoặc giếng.
Giữa hồ có một cái gò nhỏ rộng chừng 200m2, xung quanh có rất nhiều cây cổ thụ xòe xuống tận mặt nước. Ngay cả vào những mùa hạn hán, nước trong giếng chỉ bị hụt đi chứ không bao giờ hết. Người làng kháo nhau rằng, kẻ trộm bị Thánh hành, sợ quá phải đem trả”. Tuy nhiên, ở giữa đó lại nổi lên một cái gò lớn, xung quanh cây cối tươi tốt. Từ chiếc giếng không bao giờ cạn nước bây giờ tại xã Phù Đổng có ba nơi thờ Thánh Gióng là đền Thượng, đền Mẫu và miếu Ban.
Ông Đinh Minh Tỉnh (Phó ban quản lý di tích xã Phù Đổng, song song là người trông nom đền Gióng) cho biết: Cứ vào ngày hội chính (ngày 9 tháng tư âm lịch), người ta đến gò đất này làm lễ.
Ông Đinh Minh Tỉnh nói: “Những chuyện thần bí đến nay các nhà khoa học cũng chưa thể giảng giải rõ ràng được, nên chẳng thể vội nói đúng hay sai. Không có tiếng ầm ĩ, huyên náo. Nhiều người đã khỏi bệnh. Nhất là những con trẻ có dấu hiệu “trúng tà” đến đây cầu xin, nếu Thánh đồng ý, một mực sẽ khỏi bệnh.
Người dân thường mang thùng ra gạn những lớp nước đáy mà nước vẫn ngọt, vẫn trong”. Trong khu quần thể di tích thờ Thánh Gióng thì miếu Ban cách đền Thượng (đền chính thờ ngài) khoảng 100m về phía tây của làng.
Bà không cần khó công khó nhọc mà vẫn có cái ăn để lấy sữa nuôi Gióng. Bà đưa chân vào ướm thử, sau đó lấy những cỏ lác trong vườn mang về nấu canh ăn. Ngày nay, những vật do trời làm không còn nữa, con người phải đẽo đá để mô phỏng và dùng nơi đó làm nơi thờ phụng.
Nơi đây trước kia là một khu rừng rậm và cũng là nơi mẹ Thánh Gióng hạ sinh ngài tại đây. Nếu biết sử dụng những thần tích đó vào giáo dục truyền thống, đạo đức của thế hệ trẻ hiện giờ, chúng tôi hoàn toàn ủng hộ”.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét