Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013

Chứng khoán Việt và cơn sóng thần 2008 (kỳ 1): “Điên vì tận hưởng chứng khoán”.

Từ góc độ vĩ mô, sự kỳ vọng rất cao vào tăng trưởng của nền kinh tế là duyên do quan yếu nhất

Chứng khoán Việt và cơn sóng thần 2008 (kỳ 1): “Điên vì chứng khoán”

Các tay chơi lớn trên thị trường lúc đó không chỉ là các nhà băng, công ty chứng khoán, các quỹ đầu tư, mà còn sinh sôi rất nhiều các quỹ thành viên tự phát, những doanh nghiệp tham dự đầu tư tài chính, những nhóm nhà đầu tư góp tiền đầu tư chung, thậm chí các nhóm này còn kết liên với nhau.

Bản thân người viết bài này khi đó đã phải “cháy máy” để cụ làm dịu đi những phản ứng của độc giả. Suốt cả năm đó, thị trường còn có thêm hai đợt tăng nữa nhưng không tìm lại được đỉnh cao này, và xu hướng sụt giảm trở thành rõ ràng hơn từ tháng 11.

“Ngu”, “phá đám”, “ghen tức”, “nhỡ tàu” (thời kỳ đó thuật ngữ “chim lợn” - nôm na là nói xấu về một vấn đề nào đó nhằm tư lợi - vẫn chưa phổ quát) là những bình luận rát mặt của bạn đọc.

Tuy nhiên những biện pháp kìm nén lạm phát, thắt chặt tiền tệ ngay từ quý 1/2008 đã tạo nên cú sốc thanh khoản và lan tỏa đến bít tất thị trường tài sản.

Trước đó, các phương tiện khác như tăng dự trữ tấm đã được thực hiện trong tháng 1, phát hành tín phiếu nép được thực hiện trong tháng 3. Từ tháng 11/2006 đến hết tháng 1/2007, VN-Index đã bùng nổ gấp đôi. Bồi thêm vào cơn giận dữ của cộng đồng đầu tư trong nước ngay sau đó - ngày 1/3/2007, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) công bố bản đánh giá và khuyến nghị can dự đến thị trường chứng khoán Việt Nam.

Câu nói “đừng nghe lời chuyên gia, hãy quan hoài tới túi tiền tài mình” chưa bao giờ đúng như lúc ấy. Cũng chẳng thể trách những tờ báo đã dịch và đăng lại một bài viết của tờ Financial Times, khi hiếm lắm truyền thông quốc tế mới có bài viết về thị trường chứng khoán trong nước. Một cái Tết rất rộn rã, khi hầu như ai cũng có thể khoe những thành tích kiếm tiền đáng nể.

Theo báo cáo của IMF, thị trường đang có 17/107 cổ phiếu (16%) có P/E lớn hơn 43,24 lần; 46 (43%) cổ phiếu có P/E lớn hơn 20 lần.

# Con số thấp hơn: PVD “chỉ có” 338,77 lần, CII là 80,08 lần, KDC là 79,71 lần, FPT là 110,52 lần, BTC là 90 lần, HBC là 83,43 lần… dĩ nhiên vào thời điểm hiện tại nhìn lại, con số P/E nói trên quả thực “điên rồ”, nhưng vào năm 2007, những người thường ngày mới là “điên”, còn “người điên” kiếm ra tiền lại là người bình thường! VN-Index đạt đỉnh vào ngày 12/3/2007 với mức cao nhất trong ngày hôm đó là 1.

Chẳng phải sao, khi những lời cảnh báo phần nhiều là từ những chuyên gia hiếm khi bỏ một đồng vào đầu tư, và thị trường đã trả lời gang thép những khuyến cáo thận trọng bằng những đợt tăng chóng cả mặt!  Phản ứng của đám đông   thành thử, một bài báo được đăng tải vào ngày 21/2/2007 đã làm gai mắt không sao nhiêu nhà đầu tư, với tiêu đề: “Người Việt phát điên vì chứng khoán”.

Tình trạng bỏ việc công sở đi đánh chứng khoán xảy ra như cơm bữa, đơn giản vì lợi nhuận trong vài tháng có thể bằng thu nhập làm công ăn lương trong cả năm.

Nhảy vào giữa một thị trường giá lên dài hạn dễ khiến nhà đầu tư bị cuốn vào cơn say tăng trưởng.

Áp lực của lạm phát cũng như hành động của nhà băng quốc gia đã khiến lãi suất của các nhà băng tăng mạnh từ cuối quý 2/2008, động dao từ 16-18% đối với tiền gửi và từ 20-21% đối với các khoản vay.

Từ giác độ dòng vốn, nguồn vốn từ bên ngoài đổ vào quá mạnh trong năm 2006-2007 đã khiến một lượng rất lớn tiền đồng được tung ra để tiếp nhận số ngoại tệ này, nhưng lại không được hút về một cách đúng mức.

Một số nước châu Á cũng đã qua những thời kỳ tăng giá chứng khoán na ná (thậm chí còn cao hơn), nhưng không có một nước nào có hệ số P/E trung bình cao như Việt Nam”.

Mặc dầu việc xuất hiện những đợt tăng giá chứng khoán nhanh và tăng hệ số P/E là hiện tượng phổ thông trên thị trường mới nổi đang phát triển nhanh nhưng vẫn là rất cao so với hầu hết các chuẩn thị trường khác. Từ góc độ nhà đầu tư, cơn say tăng trưởng và lợi nhuận đã cuốn hút một lượng rất lớn nhà đầu tư mới dự thị trường.

Đến hết quý này, CPI đã tăng 16,37% so với cùng kỳ năm trước. Các nhà đầu tư liên tiếp phản biện, chỉ ra rằng ngay trong bản tin hàng ngày của HSX cũng trình diễn. Cho đến cuối năm 2007, chỉ số này về quanh 900 điểm, một mức điều chỉnh vẫn được coi là thường nhật sau những sóng tăng nóng.

Việc kìm hãm tín dụng quá gấp đã thổi bùng lên nguy cơ thiếu hụt thanh khoản trong hệ thống nhà băng. Ngay cả thời khắc cuối năm 2007, bất chấp những cảnh báo về chất lượng tăng trưởng thiếu bền vững, mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2008 vẫn được đặt ra ở mức 8,5-9%. CPI đạt đỉnh tăng vào tháng 8/2008 với mức 28,3% so với cùng kỳ.

Điều ưa nhất là, chẳng mấy ai chú ý tới các phân tách, khuyến nghị, mà chỉ quan hoài tới con số P/E (hệ số giá/lợi nhuận) nhàng nhàng của 20 công ty lớn nhất (chiếm 99% vốn hóa của thị trường) niêm yết trên HSX là khoảng 73 lần tính đến tháng 1/2007! “Hệ số này là rất cao so với hầu hết các chuẩn thị trường khác.

Tại thời điểm đó, mục tiêu này cũng không phải là viển vông khi năm 2007, tăng trưởng GDP đạt 8,48%, cao nhất kể từ năm 1996.

Nhằm hạ nhiệt nền kinh tế, ngay từ tháng 3/2008, Chính phủ đã đề ra 8 nhóm giải pháp với mục tiêu kìm nén lạm phát và giảm thâm hụt thương mại.

Đây cũng là lần trước nhất ảnh hưởng của thị trường chứng khoán đến cuộc sống được diễn đạt rõ ràng nhất. Cuối quý 1/2008, mức tăng trưởng tín dụng đạt đỉnh điểm 63%, trong đó, một phần không nhỏ được bơm vào bất động sản, chứng khoán.

Những sàn chứng khoán đông nghẹt người không khó bắt gặp trong thời hoàng kim 2006 - 2007. Nhưng phần quan yếu hơn của câu đáp, là có quá nhiều tiền dôi và nó sẽ tìm đến bất cứ chỗ nào có lợi nhất”. Thậm chí trong nửa đầu năm 2008, câu hỏi lớn nhất là: “Tiền đồng đã đi đâu”? Thị trường chứng khoán sau sóng tăng rốt cục vào tháng 10/2007 với VN-Index lên khoảng 1.

Trong 6 tháng đầu năm 2008, tiền đồng trở nên khan hiếm do các đơn vị du nhập ghim giữ tiền đồng để đầu cơ trong khi các ngân hàng từ khước mua USD và tăng bán ngoại tệ.

Lớp nhà đầu tư mới này thực tế phần đông chưa hề chứng kiến một “thị trường con gấu” đích thực nào. Vị thế của Việt Nam lên cao sau những chú ý của cộng đồng đầu tư quốc tế. Tôi không biết liệu có bất kỳ người nào hiểu cái gì là giá trị của những công ty, nhưng họ vẫn đang mua bán những tờ giấy”. Nội dung bài báo cũng không có gì đặc biệt, nhưng cách dùng từ ngữ khi chuyển ngữ đã chạm vào lòng tự ái của nhà đầu tư: “Thật là điên rồ” (It’s a frenzy) - Jonathan Pincus, kinh tế gia trưởng của Liên hiệp quốc tại Hà Nội nói vào thời điểm đó.

Ngày 19/5/2008, lãi suất cơ bản được trả lại vai trò kim chỉ nam của thị trường lãi suất khi gắn với quy định của Luật Dân sự (Lãi suất cho vay không vượt quá 150% lãi suất căn bản). Từ cuối năm 2007, Việt Nam nằm trong số các nước có tốc độ phát triển cao nhất của khu vực. Bỏ qua những rủi ro về chỉ báo vĩ mô, ngay từ cuối tháng 2/2007 (xác thực là ngày 23/2/2007), một bài viết của một tác giả có tiếng với tiêu đề: “ Cơn lốc trên thị trường chứng khoán Việt Nam: Đánh vần chữ bong bóng thế nào? ” đã chỉ ra: “Nguồn gốc của sự bùng phát trên thị trường chứng khoán Việt Nam là gì? Một phần câu đáp là từ tiến trình cổ phần hóa và hướng theo nền kinh tế thị trường.

Những niềm vui chưa từng có đã đến với nhà đầu tư chứng khoán Việt Nam trước Tết Nguyên đán 2007. “Tất cả những ồn ào ở Hà Nội đều xoay quanh chuyện đầu tư vào thị trường chứng khoán. Trong quý 1/2008, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng với tốc độ bình quân 3,06%/tháng.

Trong nhóm 17 cổ phiếu này, 7 mã có P/E trên mức 70 lần là PVD, CII, KDC, VIP, FPT, BTC và HBC. “ Stock market mania grips Vietnamese ” là tiêu đề nguyên thủy của bài viết. 100 điểm đã điều chỉnh giảm trở lại. Thị trường chứng khoán Việt Nam có khoảng 4 năm nguội lạnh, từ 2002 đến 2005, nhưng số lượng nhà đầu tư tham dự thời khắc đó không nhiều.

Người viết bài này ít nhất phải sắp đặt 3 cuộc hẹn khác nhau với 3 nhóm nhà đầu tư chỉ để họ được tả quan điểm phản biện, chỉ ra rằng IMF đã tính sai P/E của các cổ phiếu trên thị trường Việt Nam.

Các lãi suất điều hành như lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu cũng tăng theo. Các ngân hàng nhỏ phát động cuộc đua lãi suất vào khoảng tháng 5-6, đưa lãi suất liên ngân hàng thời khắc đó lên mức kỷ lục 43% và nhiều nhà băng trong nhóm này sẵn sàng huy động với lãi suất từ 19%-20%/năm.

Giá bất động sản bắt đầu đảo chiều giảm, và thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức bước vào một chu kỳ sụt giảm do lo ngại bất ổn vĩ mô, chứ không còn là điều chỉnh giá thuần túy nữa…    Kỳ tới: Cú knock-out chung cuộc     đỉnh điểm của sự hoảng loạn bắt đầu với các biểu lộ gây rối của nhà đầu tư.

Đặc biệt các khoản huy động kỳ hạn ngắn có lãi suất rất cao và tuy thuộc vào từng nhà băng để cuộn vốn. Từ tháng 2 đến tháng 6/2008, nhà băng quốc gia đã 3 lần tăng lãi suất căn bản, từ 8,75% lên 14%. Hậu quả của việc tăng trưởng nóng từ cuối năm 2007, đầu 2008 đã bắt đầu biểu thị rõ ràng hơn trên các chỉ số vĩ mô. Tuy nhiên, trước khi xác lập một thị trường “con gấu” thực sự, hàng chục ngàn tỷ đồng đã kẹt lại trong sóng tăng cuối cùng, kéo dài từ tháng 9 đến tháng 11 năm đó.

179,32 điểm. Trả giá cho vĩ mô  Sau một độ trễ thời kì đủ dài, nay nhìn lại, cơn bùng phát của thị trường chứng khoán Việt Nam 2006 - 2007 không khó tìm ra nguyên nhân. Lần trước tiên một tổ chức quốc tế bị cho là đã “chim lợn” thị trường chứng khoán Việt Nam! Lòng yêu nước và sự tự ái ngay tức khắc lan rộng trên các cộng đồng nhà đầu tư.

Thời điểm cuối 2007, đầu 2008, tốc độ tăng trưởng tín dụng được ghi nhận ở mức kỷ lục trong hệ thống ngân hàng.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét